TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
Hiệu quả – Chuyên nghiệp
TRỌNG TÀI QUỐC TẾ
Kết nối – Hội nhập
HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI
Đồng thuận – Hợp tác
TRỌNG TÀI ĐIỆN TỬ
Minh bạch – Hiệu quả
TẠI SAO NÊN CHỌN OPIC ?
Trung tâm Trọng tài Quốc tế OPIC Việt Nam với bề dày kinh nghiệm trên 15 năm là lựa chọn tin cậy của cá nhân, doanh nghiệp, nhà đầu tư và luật sư trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo chuẩn mực quốc tế. OPIC Việt Nam ra đời với sứ mệnh cung cấp phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án (ADR) Độc lập – Uy tín – Bảo mật, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
CÔNG BẰNG
Trong mọi quyết định
CHUYÊN NGHIỆP
Trong mọi dịch vụ
UY TÍN
Trong mọi vụ việc
QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
Minh bạch – Hiệu quả – Chuẩn mực quốc tế
1. NỘP ĐƠN
Yêu cầu trọng tài
2. THÀNH LẬP
Hội đồng trọng tài
3. TRAO ĐỔI
Hồ sơ và tài liệu
4. PHIÊN HỌP
Giữa các trọng tài
5. PHÁN QUYẾT
Của trọng tài
6. THI HÀNH
Phán quyết
ĐỘI NGŨ: TRỌNG TÀI VIÊN – HÒA GIẢI VIÊN

PHẠM NHƯ HƯNG
Chủ tịch

LÊ VĂN HÒE
Chuyên gia pháp lý

DƯƠNG VĂN THỤ
Chuyên gia pháp lý

HOÀNG ANH ĐỨC
Chuyên gia pháp lý

NGÔ VĂN TÙNG
Chuyên gia pháp lý

TRẦN THANH PHƯƠNG
Chuyên gia pháp lý
TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ OPIC VIỆT NAM
TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ OPIC VIỆT NAM
DỊCH VỤ – OPIC VIỆT NAM
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận trọng tài của các bên.
– Vụ tranh chấp được xem xét và giải quyết bởi Hội đồng Trọng tài độc lập, khách quan, với các Trọng tài viên có chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp.
– Phương thức này mang lại nhiều ưu điểm như tính bảo mật cao, thủ tục linh hoạt, thời gian giải quyết hợp lý và khả năng lựa chọn Trọng tài viên phù hợp với tính chất vụ việc.
– Đặc biệt, trọng tài thương mại phù hợp với các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, đầu tư và thương mại quốc tế, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và duy trì môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch.
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự tự nguyện, thiện chí và hợp tác của các bên, với sự hỗ trợ của Hòa giải viên độc lập, trung lập và khách quan.
– Thông qua quá trình đối thoại, lắng nghe và phân tích lợi ích của các bên, Hòa giải viên giúp các bên tìm kiếm giải pháp phù hợp, cân bằng và có khả năng thực hiện.
– Hòa giải đề cao quyền tự quyết của các bên, đồng thời bảo đảm tính bảo mật và linh hoạt trong quá trình giải quyết tranh chấp.
– Đây là phương thức giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, hạn chế đối đầu và đặc biệt phù hợp với những tranh chấp mà các bên vẫn mong muốn duy trì quan hệ hợp tác, kinh doanh lâu dài.
NỀN TẢNG TRỌNG TÀI ĐIỆN TỬ
ĐẶT LỊCH HẸN
HỎI / ĐÁP
Quá trình tố tụng trọng tài bắt đầu khi nào?
Căn cứ Điều 31, Luật trọng tài thương mại 2010
Trường hợp tranh chấp được giải quyết thông qua trọng tài vụ viêc, nếu các bên không có thỏa thuận khác, thời điểm bắt đầu của tố tụng trọng tài là khi bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn
Trường hợp tranh chấp được giải quyết tại trung tâm trọng tài, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì thời điểm bắt đầu của quá trình tố tụng trọng tài được tính khi trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Căn cứ Điều 39, 40 41 Luật Trọng tài thương mại 2010
“Điều 39. Thành phần Hội đồng trọng tài
1. Thành phần Hội đồng trọng tài có thể bao gồm một hoặc nhiều Trọng tài viên theo sự thỏa thuận của các bên.
2. Trường hợp các bên không có thoả thuận về số lượng Trọng tài viên thì Hội đồng trọng tài bao gồm ba Trọng tài viên.”
“Điều 40. Thành lập Hội đồng trọng tài tại Trung tâm trọng tài
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không quy định khác, việc thành lập Hội đồng trọng tài được quy định như sau:
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và yêu cầu chọn Trọng
tài viên do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên cho mình và báo cho Trung tâm trọng tài biết hoặc đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên. Nếu bị đơn không chọn Trọng tài viên hoặc không đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên, thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản này, Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn;
2. Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện do Trung tâm trọng tài gửi đến, các bị đơn phải thống nhất chọn Trọng tài viên hoặc thống nhất yêu cầu chỉ định Trọng tài viên cho mình. Nếu các bị đơn không chọn được Trọng tài viên, thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản này, Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn;
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày các Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định, các Trọng tài viên này bầu một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Hết thời hạn này mà việc bầu không thực hiện được, thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản này, Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài;
4. Trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một Trọng tài viên duy nhất giải quyết nhưng không chọn được Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chủ tịch Trung tâm trọng tài sẽ chỉ định Trọng tài viên duy nhất.”
“Điều 41. Thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc
Trường hợp các bên không có thoả thuận khác, việc thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc được quy định như sau:
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chọn Trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết Trọng tài viên mà mình chọn. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình chọn và các bên không có thoả thuận khác về việc chỉ định Trọng tài viên, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn;
2. Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, thì các bị đơn phải thống nhất chọn Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo. Hết thời hạn này, nếu các bị đơn không chọn được Trọng tài viên và nếu các bên không có thoả thuận khác về việc chỉ định Trọng tài viên, thì một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn;
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được các bên chọn hoặc được Tòa án chỉ định, các Trọng tài viên bầu một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Trong trường hợp không bầu được Chủ tịch Hội đồng trọng tài và các bên không có thoả thuận khác thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài;
4. Trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do một Trọng tài viên duy nhất giải quyết nhưng không chọn được Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, nếu các bên không có thoả thuận yêu cầu một Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên duy nhất;
5. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của các bên quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 của Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phải phân công một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên và thông báo cho các bên.”
-> Như vậy,
– Các bên được tự do thỏa thuận về số lượng trọng tài viên cũng như thủ tục chỉ định trọng tài viên đó;
– Nếu các bên không thỏa thuận về số lượng trọng tài viên, Hội đồng trọng tài sẽ bao gồm 03 trọng tài viên;
– Nếu vì lý do nào đó mà có một trọng tài viên không được chỉ định, thì trọng tài viên đó có thể được Chủ tịch trung tâm trọng tài (trong trường hợp trọng tài quy chế) hoặc Tòa án có thẩm quyền (trong trường hợp trọng tài vụ việc) chỉ định.
Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.”
Điều 16 Luật này cũng đặt ra những hình thức thỏa thuận trọng tài, trong đó lưu ý rằng thỏa thuận trọng tài phải được xác lập bằng văn bản
Như vậy, khi tranh chấp đã xảy ra và các bên muốn đưa ra giải quyết thông qua phương thức trọng tài thương mại thì lúc này các có thể lập thỏa thuận trọng tài với hình thức luật định và đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài.
Tuy nhiên, thỏa thuận trọng tài vẫn có thể bị vô hiệu trong một số trường hợp:
– Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài
– Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, tức là người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền.
Về nguyên tắc thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập thì thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu. Trường hợp thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu.
– Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự, tức là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
– Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật Trọng tài thương mại.
– Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài, là trường hợp một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép theo quy định tại Điều 4, Điều 123 của Bộ luật dân sự.
– Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật, là thỏa thuận thuộc trường hợp quy định tại Điều 123 của Bộ luật dân sự 2015.
Luật Trọng tài thương mại 2010 đặt ra quy định về Phí trọng tài như sau:
Điều 34. Phí trọng tài
1. Phí trọng tài là khoản thu từ việc cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Phí trọng tài gồm:
a) Thù lao Trọng tài viên, chi phí đi lại và các chi phí khác cho Trọng tài viên;
b) Phí tham vấn chuyên gia và các trợ giúp khác theo yêu cầu của Hội đồng trọng tài;
c) Phí hành chính;
d) Phí chỉ định Trọng tài viên vụ việc của Trung tâm trọng tài theo yêu cầu của các bên tranh chấp;
đ) Phí sử dụng các dịch vụ tiện ích khác được cung cấp bởi Trung tâm trọng tài.
2. Phí trọng tài do Trung tâm trọng tài ấn định. Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bởi Trọng tài vụ việc, phí trọng tài do Hội đồng trọng tài ấn định.
3. Bên thua kiện phải chịu phí trọng tài, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng trọng tài quy định khác hoặc Hội đồng trọng tài có sự phân bổ khác.
Như vậy, phí trọng tài còn có thể được ấn định theo:
– Biểu phí do các trung tâm trọng tài ấn định; và/hoặc
– Hội đồng trọng tài vụ việc.
Các bên có thể tự mình thỏa thuận về chi phí pháp lý hoặc yêu cầu hội đồng trọng tài quyết định về vấn đề này.
Các quy định liên quan đến hòa giải thương mại nói chung và tổ chức hòa giải thương mại nói riêng được quy định tại Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về Hòa giải thương mại. Trong đó Điều 24 của Nghị định này quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức hòa giải thương mại như sau:
Điều 24. Quyền, nghĩa vụ của tổ chức hòa giải thương mại
1. Tổ chức hòa giải thương mại có các quyền sau đây:
a) Thực hiện hoạt động hòa giải thương mại;
b) Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn về kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên thương mại;
c) Thu thù lao và các khoản thu hợp pháp khác có liên quan đến hoạt động hòa giải thương mại;
d) Xây dựng tiêu chuẩn hòa giải viên thương mại và quy trình xét chọn, lập danh sách, xóa tên hòa giải viên thương mại trong danh sách hòa giải viên thương mại của tổ chức mình;
đ) Chỉ định hòa giải viên thương mại theo yêu cầu của các bên;
e) Các quyền khác theo quy định Nghị định này và pháp luật có liên quan.
2. Tổ chức hòa giải thương mại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Lập, công bố danh sách hòa giải viên thương mại, gửi danh sách hòa giải viên thương mại của tổ chức mình cho Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức hòa giải thương mại đăng ký hoạt động trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động hoặc kể từ ngày quyết định bổ sung hoạt động hòa giải thương mại cho Trung tâm trọng tài có hiệu lực hoặc kể từ ngày có thay đổi về danh sách hòa giải viên thương mại.
b) Trả thù lao và các chi phí khác cho hòa giải viên thương mại;
c) Ban hành quy tắc đạo đức và ứng xử của hòa giải viên thương mại;
d) Xây dựng, ban hành và công bố công khai Quy tắc hòa giải, mức thù lao hòa giải;
đ) Báo cáo Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đăng ký hoạt động về tổ chức, hoạt động định kỳ hằng năm và khi có yêu cầu;
e) Lưu trữ hồ sơ, cung cấp thông tin về kết quả hòa giải theo yêu cầu của các bên tranh chấp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
g) Các nghĩa vụ khác theo quy định Nghị định này và pháp luật có liên quan.
Theo Khoản 12 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010: “Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn.”
Luật Trọng tài thương mại 2010 đã đưa ra khái niệm về phán quyết của trọng tài nước ngoài, việc xem xét hiệu lực thi hành của phán quyết trọng tài nước ngoài được dẫn chiếu đến Bộ Luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015. Cụ thể, căn cứ theo Khoản 1 Điều 424 Bộ Luật trên:
Điều 424. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.
Như vậy, phán quyết của Trọng tài nước ngoài không đương nhiên được công nhận và cho thi hành mà cần phải thuộc các trường hợp theo quy định của BLTTDS 2015
Phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm và có giá trị bắt buộc thi hành. Nhưng phán quyết trọng tài có thể bị Tòa án tuyên bố hủy khi có yêu cầu của một bên và thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010. Cụ thể:
Ðiều 68. Căn cứ huỷ phán quyết trọng tài
1. Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài khi có đơn yêu cầu của một bên.
2. Phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;
b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;
c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;
d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;
đ) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
3. Khi Tòa án xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, nghĩa vụ chứng minh được xác định như sau:
a) Bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều này có nghĩa vụ chứng minh Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong các trường hợp đó;
b) Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài.
TIN TỨC – SỰ KIỆN
Cảnh báo rủi ro không phải căn cứ để giữ toàn bộ tiền hoàn thuế
admin2026-09-24T09:36:09+07:0011 Tháng 9, 2026|Tư vấn pháp luật|
Từ 1.10, công khai hoạt động tòa án, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin
admin2026-09-23T03:11:40+07:0011 Tháng 9, 2026|Tư vấn pháp luật|
Triển khai “sổ đỏ” trên VNeID: Người dân được lợi gì?
admin2026-09-23T03:16:55+07:007 Tháng 9, 2026|Tư vấn pháp luật|



